Bến Bình Đông – Đại lộ Đông Tây: Con đường di sản giữa Sài Gòn

Facebook Twitter Google+ LinkedIn Pinterest

Đã từ lâu “con đường di sản” này là một phần không thể tách rời trong tiến trình lịch sử hơn 300 năm của Sài Gòn.

Kênh Tàu Hủ

Vì sao gọi con đường này là tuyến giao thương quan trọng? Để trả lời câu hỏi ấy, chúng ta cần quay ngược lại lịch sử hình thành… kênh Tàu Hủ cách đây hơn 300 năm. Bởi người đặt giả thuyết rằng, nếu như không có con kênh Tàu Hủ thì chưa chắc có đại lộ Đông Tây, mà không có đại lộ Đông Tây thì tất nhiên, làm gì có con đường “di sản”!

Hình ảnh kênh Tàu Hủ ngày xưa

Trở lại với lịch sử hình thành con kênh Tàu Hủ, một số tài liệu ghi rằng, lúc khởi thủy kênh Tàu Hủ chỉ là một con rạch nhỏ hẹp, thường xuyên bị bùn đất bồi lấp gây cản trở dòng chảy khiến cho việc đi lại bằng ghe xuồng – một phương tiện đi lại phổ biến thời đó, gặp nhiều hạn chế. Thế nên vào mùa xuân Kỷ Mão năm 1819, vua Gia Long đã ra lệnh cho Phó tổng trấn Gia Định lúc bấy giờ là ông Huỳnh Công Lý chỉ huy cải tạo, nạo vét lại.

Công việc này được Sách Quốc triều sử toát yếu (Chính biên) chép: “…Khiến Phó tổng trấn Hoàng Công Lý đem 10 vạn dân, cấp tiền gạo đào sông từ thành Phiên An thông đến sông Mã Trường Giang . Đào xong rồi, Ngài (Gia Long) đặt tên là An Thông Hà. Đàng sông đã thông, thuyền bè qua lại đêm ngày, chỗ ấy thành một chỗ đô hội lợi ích cho dân lắm.” Ngoài tên gọi An Thông Hà như sử chép, con kênh này còn được gọi là Kinh Mới hay rạch Chợ Lớn (do con kênh này chảy ngang Chợ Lớn).

Những dịp Tết Nguyên Đán, cảnh buôn bán tấp nập.

Sự thông thoáng, an toàn của con kênh đã nhanh chóng thu hút đông đảo khách thương hồ từ khắp nơi đổ về làm ăn buôn bán, tạo nên một phong cảnh “trên bến dưới thuyền” hết sức nhộn nhịp. Quang cảnh đó được Trương Vĩnh Ký viết trong tác phẩm Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận (năm 1885) như sau: “Hai bên bờ rạch Chợ Lớn là hai dãy nhà phố lớn bằng gạch gọi là Tàu Khậu để cho người Hoa từ Trung Quốc hằng năm đi ghe biển tới thuê. Họ đem hàng hóa chứa trong các phố đó, hoặc để bán sỉ hoặc để bán lẻ khi lưu trú tại Sài Gòn”. Đây là một trong những yếu tố hình thành tên gọi kênh Tàu Hủ ngày nay. Bởi theo như nhận định của ông Huỳnh Tịnh Của thì Tàu Khậu là giọng người Triều Châu phát âm từ Thổ Khố, tức là khu nhà lớn bằng gạch để chứa hàng hóa, sau đọc trại ra thành Tàu Hủ.

Đầu thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, khi mà ngành công nghiệp thương mại thành phố bắt đầu phát triển mạnh, nhu cầu vận chuyển, trao đổi hàng hóa tăng cao nên hai bờ kênh Tàu Hủ được phát triển thành 2 tuyến giao thông bộ. Hàng hóa – chủ yếu là nông sản – sau khi được các thương lái chuyển về bến Bình Đông – một bến quan trọng trên kênh Tàu Hủ – sẽ được xe ngựa, xe bò… kéo về khu vực chợ Lớn để phân phối lại. Trong số những nông sản ấy, lúa gạo là mặt hàng tối quan trọng.

Bến Bình Đông ngày nay

Ông Lý Mẫn Tú, một cư dân sống ở khu vực bến Bình Đông cho biết: “Những ai từng sống và làm việc ở bến Bình Đông thời ấy đều không thể quên các chành, tức Hoa gọi chỗ chứa hàng, hàng loạt nhà máy xay xát, mua bán và xuất khẩu lúa gạo. Ngày đó, hàng hóa, lúa thóc được người Hoa thu mua lúa từ các tỉnh miền Tây về đây tập kết, xay xát rồi đem bày bán tại đường Trần Chánh Chiếu, quận 5”.

Nơi cảnh mua bán nhộn nhịp muôn sắc màu

Cũng theo ông Tú, chợ Trần Chánh Chiếu hay chợ Gạo là khu chợ chuyên doanh đầu tiên và lâu đời nhất Sài Gòn, nó được người Hoa lập nên vào khoảng năm 1750. Không chỉ tiêu thụ trong nước, từ khu chợ này, lúa gạo được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, cái “hồn” của “con đường lúa gạo” ngày nào chắc chắn vẫn còn hiện hữu. Và đó chính là một trong những yếu tố quan trọng và đầu tiên mà con đường này trở thành “di sản”.

Cùng với rạch Bến Nghé, kênh Tàu Hủ ra đời đã tạo thành một tuyến giao thương thủy lộ khép kín từ Tây sang Đông. Nhận thấy đây là địa điểm thuận lợi để làm ăn sinh sống nên khoảng nửa cuối thế kỉ 17, đầu thế kỉ 18, nhiều di dân người Hoa từ khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Cù Lao Phố (Đồng Nai) đã giong thuyền về đây khai hoang lập ấp. Tuân thủ triệt để câu “nhất cận thị, nhị cận giang”, những người này đã chọn khu vực phụ cận địa điểm “trên bến dưới thuyền” mở làng nghề, cửa hiệu làm ăn buôn bán.

Hoa kiểng thường đến từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ.

Một trong những nghề khá thịnh của người Hoa khu vực này thời đó là nghề làm gốm. Rất nhiều thương hiệu gốm nổi tiếng thời đó vẫn còn nhiều người nhớ đến như: gốm Cây Mai, gốm Hưng Lợi…Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chủ quan lẫn khách quan, những lò gốm sứ nổi tiếng của người Hoa hiện nay không còn tồn tại. Có chăng, chỉ còn vài điểm sản xuất nhỏ lẻ với những mặt hàng đơn giảm như bếp lò, heo đất… và một vài đại danh gắn liền với nghề nghiệp như: Lò Gốm, Lò Siêu, Xóm Đất… Tiếp xúc với chúng tôi, thế hệ thứ 6 -7 của những người Hoa di cư ở khu vực quận 6 cho rằng, sẽ “rất làm tiếc” nếu như trong quá trình bảo tồn con đường “di sản” mà các nghề “di sản” này bị lãng quên!

Những ngôi nhà cổ nhiều ký ức vẫn ẩn mình soi bóng mỗi buồi chiều.

Ông Nguyễn Thanh Tâm, một lão thương ở đây cho biết: “ Ngày xưa trên con đường này có nhiều ngôi nhà có lối kiến trúc rất đẹp và rất đặc trưng. Không giống như những khu nhà nằm sâu trong trung tâm chợ Lớn, nhà cửa ở đây là một sự kết hợp hài hòa giữa đường nét Đông Á của người Hoa và chất Tây phương của kiến trúc Pháp. Nó là dấu ấn rõ nét nhất của sự giao thoa văn hóa ở khu vực này”.

Một số tài liệu cho biết, sở dĩ có nét đặc trưng này là do khu vực này trước đây được người Hoa thuê các nhà thầu Singapore xây dựng. Kiến trúc được xây theo dạng nhà phố với bề ngang hẹp, nhằm tăng số lượng nhà mặt tiền và nhờ đó mau chóng thu hồi vốn đầu tư xây dựng. Tầng trệt là cơ sở kinh doanh tầng trên là nhà ở. Theo quan sát của chúng tôi, hiện chỉ còn một vài khu nhà là còn giữ được lối kiến trúc đặc trưng đó, đa số nằm bên phía quận 6…

Nguyên Minh

Related Posts

Facebook Comments