Đám cưới chánh thống của đất Nam Kỳ

Facebook Twitter Google+ LinkedIn Pinterest
Đám cưới chánh thống của đất Nam Kỳ

Kết hôn là một trong những công việc hệ trọng nhứt của đời người,trai gái lớn lên thương nhau và lấy nhau về cùng một mái nhà sanh con đẻ cháu ,đó là việc thông dụng xưa rày

“Má ơi! Đừng gả con xa
Chim kêu mà vượn hú biết nhà má đâu?
Sương khuya ướt đọng giàn bầu
Em về miệt thứ, bỏ sầu cho ai?”

Người Nam Kỳ có những khái niệm về đôi lứa như sau:

– Thích nhau mà lấy nhau kêu là “ưng nhau”

“Con cóc ở góa đã lâu
Chàng hiu đến nói, lắc đầu không ưng
Nhái bầu đâu ở sau lưng
Nó kêu cái ẹo, khuyên ưng cho rồi”

– Hai gia đình đàng trai và đàng gái ưng nhau thì mần sui gia với nhau. Người Bắc Kỳ lại kêu là thông gia

Nhưng trong văn hóa Nam Kỳ thì thông gia và sui gia khác nhau cơ bản.

Sui gia là hai gia đình có con gả cho nhau , nhà trai nhà gái có người lấy nhau .Hai bậc thân sanh phụ mẫu trai gái sẽ gọi nhau là anh sui chị sui,sui gia hai họ

Thông gia là hai gia đình cùng có quan hệ sui gia với một gia đình thứ 3 khác, ví dụ như ông Ba là sui gia với ông Chín, Ông Chín lại ngồi sui với ông Mười ,vậy ông Mười và ông Ba khi có tiệc hay café ngồi chung thì gọi là “ thông gia” với nhau

“Cây đa trốc gốc, thợ mộc đương cưa
Anh với em bề ngang cũng xứng, bề đứng cũng vừa
Bởi tại cha với mẹ kén lừa sui gia”

– Con gái lớn lấy chồng kêu là xuất giá

出嫁 xuất giá – có nghĩa là đi lấy chồng, ra khỏi nhà mình để về nhà chồng

Làm lễ xuất giá là một lễ truyền thống của người Nam Kỳ diễn ra trong đêm trước ngày rước dâu ở gia tộc nhà cô dâu.

Trong đêm này đèn đuốc trên bàn thờ nhà gái được đốt sáng rực, gia tộc từ ông bà, cô dì, cậu chú, anh em hai bên nội ngoại, láng giềng thân thiết cô dâu sẽ tề tựu lại trước bàn thờ.

Buổi lễ này không có chú rể tham gia, cô dâu sẽ lạy bàn thờ tổ tiên sau đó xá và dâng rượu ông bà nội, ngoại, cha mẹ, chú bác.

Trong buổi tối này, dòng họ cô dâu sẽ góp cho của hồi môn cho cô dâu chú rể

Quan trọng nhứt là những lời giáo huấn,góp ý của ông bà cha mẹ, nhứt là mẹ cô dâu nhắc cô dâu phải nhớ câu” công ngôn dung hạnh, tứ đức, tam tòng”, phận dâu con phải “nội trợ tề gia”,” kính nhường thuận thảo”, sống sao cho vừa dạ bên chồng, giữ vững con nhà gia giáo.

Phàm ở đời có câu “con hư tại mẹ”, mà phận con dâu mà hư thì mẹ chồng hay chửi ”Nó giống con gái mẹ nó” nên bà sui gái luôn phập phồng những ngày đầu con gái mình qua nhà chồng, sợ có gì thất thố mang tiếng.

“Ở sao phải biết trước sau
Lòng cay nghiệt lắm lấy đâu đẹp đời”

Lễ xuất giá là một dịp để cô dâu chiêm nghiệm lại cuộc đời mình ,thường mặt mày cô dâu sẽ rất”nghiêm trang”, thậm chí khóc hu hu trước lời mẹ dặn: “Con ra đi là cách mẹ xa nhà, ngày mai này thôi con đã là con của người ta… ở nhà mình con có lỗi lầm gì mẹ cũng bỏ qua, nhưng về nhà chồng con phải biết trước sau. Sau này mẹ có nhắm mắt theo ông, theo bà… mẹ cững được ngậm cười nơi chín suối”

Còn ai nhớ Thanh Nga ca trong “Nửa đời hương phấn” không?

” Dẫu biết em có thành hôn với dượng Ba đây hay là dới bất cứ ai đi nữa, thì chị cũng dề với … em. Để mừng ngày em xuất giá, cho dui lòng ba với má. Chị cũng được nở mặt nở mày dới lối xóm bà con….”

Văn hóa Nho giáo,hồi xưa có câu “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (Người con gái ở tại nhà thì theo cha, đi lấy chồng phải theo chồng, chồng chết thì phải theo con.)

– Đám cưới trước nhà gái đề bảng “Vu Quy”

“Khấp như thiếu nữ vu quy nhật
Tiếu tựa thư sinh lạc đệ thì”
(Cười như anh khóa hỏng thi
Khóc như cô gái sắp đi lấy chồng )
于歸 (vu quy ) là con gái về nhà chồng

– Đám cưới trước nhà trai trước cửa đề bảng “Tân Hôn”

新婚 (tân hôn) là vợ chồng vừa mới cưới

Người Nam Kỳ phân biệt rất rõ giữa tân hôn và vu quy, người Bắc thì không phân ra, họ kêu chung là “Thành hôn” cho cả họ đàng trai và gái

Còn đám hỏi Nam Kỳ đề chữ “訂婚” đính hôn

Xưa cưới có 6 lễ, ông bà mình lần hồi rút còn 3 lễ thôi, đó là coi mắt, đám nói và đám cưới.

Nhà trai che rạp, quét nhà và trang trí bàn thờ.

Bàn thờ Từ Đường đám cưới chuẩn mực Nam Kỳ từ xưa tới nay với bộ Tam sự ở giữa, Đông bình tây quả, Đông là lục bình chưng bông, Tây là cái chò cao trên có dĩa bàn thang chưng trái cây năm thứ.

Sơn Nam nói đó là “thuần phong mỹ tục”, nôm na là ăn ở “lịch sự” kiểu người Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Đó là cái “Kỷ tam sơn”, đế cao, chánh giữa có phần nhô lên dành cho cái lư cắm nhang.

Nam Kỳ ta xưa nay,luật bất thành văn,hễ đám cưới và Tết là chưng bông huệ đỏ ,không chưng chuối và huệ trắng.

Trong văn hóa Bắc thì người ta chưng chuối già trong Tết và cưới luôn.

Người Huế cũng chưng chuối, chuối cau, chuối mốc và trái bưởi là chưng trên bàn thờ đám cưới hay Tết. Bàn thờ Huế khác bàn thờ Nam Kỳ

Chuyện chưng chuối này không có một thư tịch nào quy định, nhưng nó là luật bất thành văn, là thói quen

Cây bông huệ màu đỏ, lay ơn đỏ, là loại bông hỉ sự .Có thời gian bông cô dâu ôm trên tay là bông huệ đỏ hoặc lay ơn đỏ.

Người Nam Kỳ kỵ những loại bông sau trong cưới hỏi: Bông bụp, bông lài, phù dung, vạn thọ

Cực kỳ kỵ bông huệ trắng và ly trắng vì hai loại này thường mặc định chưng trong đám ma.

Cưới hỏi người Nam Kỳ thích màu đỏ vì chúng ta cũng có máu Hoa Minh Hương. Ông bà ta không mê tín,đó là có kiêng có lành

Thí dụ đèn cầy cưới là đèn cầy màu đỏ, còn đèn cầy đám ma màu trắng, đâu thể lộn xộn được

Chúng ta đọc sách, nhiều cái không ghi rõ nhưng nhờ sự tinh tế và chắt lọc mà nhận định ra cái luật bất thành văn của ông bà mình

Nhà trai chuẩn bị sính lễ đi qua nhà gái, tất cả bởi trong mấy cái mâm quả phủ kín bằng vải đỏ. Nam Kỳ thích số chẳn nên quy định có thể trong 4 số sau đây tùy hoàn cảnh gia đình, từ 4, 6, 8 và 10 cái quả (Bắc thì 3, 5, 7, 9, 11 quả). Trong các quả đó có bánh, trí cây, trầu cau, rượu, tiền, vàng nữ trang, heo quay….

Riêng đèn cầy có nhà bỏ vô quả, có nhà ôm cặp dèn riêng.

Ngày xưa nhà trai đi qua nhà gái tới 2 cặp đèn cầy, tức là 4 cây, một cặp chú rể ôm qua từ trước và một cặp khi rước dâu, nhưng ngày nay chỉ còn một cặp đèn hai cây.

Trong đám cưới Nam Kỳ không thể thiếu đôi đèn (Hai cây đèn cầy lớn màu đỏ có hình Long Phụng) do nhà trai mang tới đặng làm lễ lên đèn ở bàn thờ tổ tiên nhà gái

Bài “Lý cây khế” có câu :

“Trèo lên cây khế mà rung
Khế rụng đùng đùng, không biết khế ai
Khế này là khế ông Cai, khế chưa mà có trái là chị Hai nó có chồng
Anh Hai đi cưới chị Hai, mâm trầu mà hũ rượu hết 20 đồng
Nào tiền mua chả, mua nem, mua một đôi đèn cho họ ngồi mâm
Ông Cai, ông Ký ngồi trên, sui gia mà ngồi giữa, bốn bên họ hàng”

Một đôi đèn tức là một cặp đèn, là 2 cây đèn cầy loại lớn và bọc trong vải đỏ kín đáo trong đám lễ vật nhà trai mang qua nhà gái.

Nhà trai đủ lễ, tổ chức rước dâu. Trước khi ra khỏi nhà thì chú rể làm lễ lên đèn ở nhà mình, đốt nhang “xin” tổ tiên cho phép đi rước dâu.

Đám cưới xưa chú rể hai tay ôm cái khai rượu đi trước, nay thì ôm bó bông.

Chú rể áo dài khăn đóng dẫn đoàn đi trước. Tới trước cửa nhà gái thì đoàn ngừng lại, trưởng tộc nhà trai bưng trầu rượu vào xin phép nhà gái cho nhà trai vào nhà

Vào trong nhà gái, sau khi an tọa, làm lễ thưa trình, nói những câu khách sáo thì làm lễ lên đèn.

Trong đám cưới Nam Kỳ xưa có một phong tục cực kỳ quan trọng đó là lễ “lên đèn”, lễ này rất trang nghiêm

Sau khi đàng trai trong đoàn rước dâu đã vô nhà gái, mấy cái quả đặt trên bàn tộc được mở ra trình tộc nhà gái, ông trưởng tộc nhà trai ôm cái khay trầu rượu mời tộc gái uống chút rượu.

Đủ lễ, ông trưởng tộc gái tuyên bố ”Tới giờ tốt, xin được làm lễ lên đèn”.

Ông trưởng tộc đàng gái khui một chai rượu cũng của đàng trai đem qua, ông rót ba chung lên bàn thờ, xong ông cầm cặp đèn cầy lên. Cặp đèn cầy màu đỏ loại bự là của đàng trai đem qua đã đặt trên bàn thờ nảy giờ. Ông đứng chánh giữa rước bàn thờ, chú rể đứng một bên, cả tộc đàng trai và đàng gái phải đứng dậy hết.

Ông trưởng tộc đàng gái đứng ngay ngắn, hai cây đèn cầy đỏ được mồi lửa từ cái đèn hột vịt trên bàn thờ, ông chấp hai tay lại cho hai cây đèn cầy sát vào nhau để ngọn lửa cháy đều lớn lên. Lửa đã cháy đều, ông đưa lên cao xá ba xá.

Xong ông cầm hai cây đèn cầy dang hai tay ra xa mỗi tay cầm một cây, có hai người họ hàng nhà gái đứng sẳn sẽ nhận mỗi người một cây và cẩn thận gắn vô chưn đen, hai ông này là người có đức hạnh, vợ con đàng hoàng, không vợ bé, không trăng hoa.

Hai cây đèn cầy trên chưn đèn đặt ngay ngắn, đứng thẳng thuốm không nghiêng ngữa, không được làm tim cháy xéo, không được làm gió thổi tắt đèn, như vậy sẽ xui.

Xong xuôi, ông trưởng tộc nhà gái bước ra, thằng rể bước tới bàn thờ chắp tay xá bốn xá, rồi bước ra bàn tộc tiếp tục xá ông bà, cha mẹ vợ hai xá, lúc rể lạy, tất cả đều im lặng

Thằng rể đủ lễ, họ đàng gái mới cho phép cô dâu bước ra ,mẹ cô dâu tới trước cửa buồng nắm tay dắt con ra trước bàn thờ, cô dâu xá chào ông bà cha mẹ đàng trai.

Cô dâu và thằng rể đồng thanh đồng thủ xá bốn xá trước bàn thờ.

Từ khi “lên đèn” trình tổ tiên đàng gái thì cô dâu coi như đã chánh thức có chồng.

Ngày nay lên đèn là chú rể cùng cô dâu luôn, hai người đốt đèn rồi hai ông trưởng tộc đàng trai gái sẽ cắm đèn

Đèn cầy phải cháy đều, không nghiêng, không được tắt.

Cưới Nam Kỳ là phải có vàng vòng, nhà giàu vàng y, nhà nghèo vàng 18, thượng lưu xài hột xoàn.

Theo xưa,ông bà mình đám cưới chỉ tặng đôi bông tai thôi .đôi bông là danh dự, lễ nghĩa của hai họ.

“Một mai thiếp có xa chàng, đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin

Đôi nhẫn cưới là bắt chước Tây theo tục lệ Thiên Chúa – mà ông bà mình thấy nó hay nên tiếp thâu làm luôn lễ đeo nhẫn.

“Cô dâu chú rể làm bể bình bông
Đổ thừa con nít
Bị đòn tét đít
Cô dâu ngồi khóc
Chú rể ngồi cười
Chú rể năm mười
Cô dâu chạy trốn”

Trong đám cưới Nam Kỳ xưa khi làm lễ rước dâu thì đàng trai đem ban nhạc lễ đến đàng gái đón cô dâu

Sau đó khi rước dâu về đàng trai khi làm lễ lên đèn ở bàn thờ nhà chú rể thì nhạc lễ được tấu lên trước bàn thờ, sau đó làm lễ tơ hồng trước bàn điện nhạn giữa sân nhà.

Nhạc lễ bắt nguồn từ nhạc cung đình Huế, có mặt ở Nam Kỳ từ thời chúa Nguyễn, nhưng khi đó chỉ tấu lên ở những bữa tiệc của quan quyền, cúng tế văn miếu, chưa nghe nói dân dã cưới con có nhạc lễ

Nhạc cưới phải vui, vui, nói lên nổi mừng vui. Cà dàn đờn hòa lên réo rắt. Trong đám cưới cũng hay đờn bản “Kim Tiền Bản”, “Ngũ đối hạ”,”Duyên kỳ ngộ”. Nhưng sau này đã bỏ vì nhạc lễ được mặc định là của đám ma.

Rước dâu về nhà .Về nhà trai làm lễ ông bà xong thì đãi ăn,tối trước khi động phòng làm lễ tơ hồng

Ba ngày sau chú rể chở vợ mang cặp vịt về nhà gái làm lễ phản bái. Ngày xưa phản bái cái mà đàng gái “sợ nhứt” vì nó phản ánh trinh tiết con gái mình. Nếu cô dâu còn trinh tiết thì cặp vịt trống lông trắng, nếu ngược lại thì cặp vịt có lông xám.

Nhưng ngày nay đã bỏ cái trinh tiết rồi, phản bái là dịp hai vợ chồng trẻ về “vấn an” cha mẹ cô dâu trước khi hai vợ chồng đi làm lại.

Chú rể xưa áo dài khăn đóng,bưng cái khai hộp đi trước, còn cô dâu bới tóc độn nón cụ quay thao, áo dài thụng tay rộng.

Nón cụ là của Bắc Kỳ

Sao mình người Nam Kỳ mà cô dâu đội nón cụ quai thao?

Vì là phong tục

Năm 1620 Vua xứ Chân Lạp Chey Chetta II trước sự uy hiếp của người Xiêm ,ông đã cho xây cung điện nguy nga tại Oudong rồi cho sứ giả qua Phú Xuân cầu hôn con gái chúa Sãi

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gả bà công nữ Ngọc Vạn cho Chey Chetta II

Bà Ngọc Vạn đẹp nổi tiếng, lại muốn dựa Việt Nam nên vua Chân Lạp liền phong cho bà làm“Đệ nhứt Hoàng Hậu” tước hiệu “Somdach Prea Peaccac Vodey Prea Voreac Khsattrey”.

Hoàng gia Chân Lạp gọi bà là Hoàng hậu Ang Cuv

Người mẹ của đất Nam Kỳ, Công nữ Nguyễn Phước Ngọc Vạn khi xuất giá đã mặc đồ gì?

Áo dài tay thụng, áo Nhật Bình, khăn vành dây như công chúa nhà Nguyễn chăng?

Hoàn toàn không đúng, vì áo dài, khăn vành dây định hình sau này thời chúa Nguyễn Phước Khoát (1714-1765) mà thôi.

Vậy thì bà Ngọc Vạn đội nón cụ quai thao rồi, mặc áo dài kiểu cổ.

Tổ tiên chúng ta là lưu dân từ miền Ngũ Quảng vô Nam cắm dùi mà tạo ra Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Nên nhớ lúc đó ngoài Trung Kỳ cũng đâu đã có áo Nhật Bình, khăn vành dây.

Từ thời Nguyễn Phước Khoát có áo dài,khăn vành dây ,nhưng sao dân Nam Kỳ vẫn giữ nón cụ? Vì nhật bình là những thứ của quý tộc chúa Nguyễn.

Ông bà chúng ta mặc đồ đội nón như Công nữ Nguyễn Phước Ngọc Vạn.

Nam Kỳ giữ lễ

Cho tới những năm 1945 chúng ta vẫn thấy đám cưới Nam Kỳ mà cô dâu đội nón cụ.

Đến những năm 1950 tại Sài Gòn đám cưới chú rể áo dài khăn đóng và cô dâu áo dài đội lúp.

Những đám nào cô dâu đội mấn (khăn vành dây), áo nhật bình là người gốc Huế, gốc Miền Trung mới di cư vào Nam.

Những năm 1960 chú rể Nam Kỳ đã bỏ áo dài khăn đóng chuyển qua mặc veston, thắt nơ, thắt caravat, tuxedo.

Tới những năm 1965 thì phần đông cô dâu Nam Kỳ đã đội lúp kiểu Tây.

Trong phong tục Nam Kỳ, hễ có tiệc tùng như đám cưới đám giỗ thì đờn ông ngồi ghế đẩu, bàn tròn ăn. Đàn bà ngồi trên bộ ván, bộ ngựa ăn.

Ngồi trên bộ ngựa xếp bằng hoặc một chưn ngang một chưn chống là đặc điểm của người đàn bà Nam Kỳ

Cô dâu Nam Kỳ đeo vàng

“Vàng mười thử lửa thử than
Người khôn thử tiếng, người ngoan thử lời
Ngó lên trống giục neo dời
Nhớ câu ước thệ, nhớ lời giao ngôn
Một ngày có đặng vợ khôn
Cũng tày cá ở vũ môn hóa rồng”

Người Nam Kỳ đeo vàng nhưng có giới hạn, tỉ như đám cưới thì cô dâu có đôi bông, dây chuyền một sợi, cà rá chỉ hai chiếc ở 2 bàn tay, một tay đeo 7 chiếc ximen. Một tay đeo lắc là quá cỡ thợ mộc rồi.

Nhớ là đồ đeo cũng mảnh mai thôi, ko u nần quá. Nếu đeo nhiều quá người ta nói là con khùng.

Vài dòng tả về đám cưới Nam Kỳ…

Related Posts

Facebook Comments