Lòng kiêu hãnh của người Sài Gòn

Facebook Twitter Google+ LinkedIn Pinterest

Đất Nam Kỳ từ khi lưu dân cắm đất khai phá và Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược thì cha ông chúng ta luôn hướng tới tự do,dân chủ,tôn trọng và muôn đời là như vậy.

Sài Gòn là sản phẩm của người yêu chuộng tự do, của tinh hoa Nam Kỳ Lục Tỉnh.

“Sài Gòn dễ ở khó về
Trai đi có vợ, gái về có con”

Sài Gòn là cái đỉnh cao của văn minh kiểu Lục Tỉnh, cách chơi Lục Tỉnh, tâm hồn Lục Tỉnh.

Chẳng phải tự dưng mà “Bác” phải vào Nam Kỳ rồi mới đi “Tìm đường cứu nước” qua cảng Sài Gòn? Bắc không có cảng Hải Phòng hay sao?
Sài Gòn anh dũng trong chiến cuộc với Tây Sơn, với người Pháp sau này, thành Sài Gòn xây tám cửa thinh thang từng là Gia Định Kinh của chúa Nguyễn Ánh.

Tây Sơn từng chiếm Gia Đinh hơn chục lần, nhưng vì lòng dân không theo nên năm lần bảy lượt họ vô rồi họ lại co giò chạy ra khỏi Sài Gòn,Tây Sơn chưa bao giờ giữ được Gia Định dù họ rất muốn.

Năm 1788, chúa Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, năm 1790 chọn đất Sài Gòn làm kinh đô với tên Gia Định kinh, ông xây thành Quy tức thành Bát Quái. Sau đó vua Gia Long dời đô ra Huế nhưng thế lực Gia Định-Sài Gòn vẫn vững mạnh, vì mạnh quá mà có vụ binh biên của Lê Văn Khôi.

Gia Định phồn vinh, thịnh vượng, ánh sáng kinh kỳ của nó át luôn cả kinh đô Huế.

“Đông đảo thay phường Mỹ Hội
Sum nghiêm bấy làng Tân Khai
Ngói lợp vẩy lân, phố thương khách nhà ngang nhà dọc
Hiên che cánh én, nhà quan dân hàng vắn hàng dài
Gái nhơ nhởn tay vòng tay xuyến
Trai xênh xang chơn hớn chơn hài “
(Gia Định phú)

Sau 1862 Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp. Trong khi đó Trung Kỳ và Bắc Kỳ là hai xứ bảo hộ. Tức Nam Kỳ mới là đất của Pháp, dân Nam Kỳ nhiều người mang quốc tịch Pháp, một điền chủ bậc thường của Nam Kỳ sống thảnh thơi, giàu sang hơn một quan Tổng Đốc của xứ Bắc.

Pháp sang VN chia Nam Kỳ lục tỉnh ra 21 tỉnh.

Có một bài thơ má học sinh Nam kỳ thuộc lòng từ lớp nhứt, bài thơ gồm chữ đầu của 21 tỉnh:

Gia – Châu – Hà – Rạch – Trà – Sa – Bến
Long – Tân – Sóc – Thủ – Tây – Biên – Mỹ
Bà – Chợ – Vĩnh – Gò – Cần – Bạc – Cấp

(Gia Định, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Trà Vinh, Sa Đéc, Bến Tre, Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hòa, Mỹ Tho, Bà Rịa, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Gò Công, Cần Thơ, Bạc Liêu, và Cấp (Vũng Tàu ngày nay, xưa có tên Pháp là Cap Saint Jacques)

Gia Định-Sài Gòn đứng đầu, mang số 1, là nơi đô hội, thạnh an nhứt Miền Nam. Nam Kỳ nằm dưới sự cai trị trực tiếp của Pháp và dưới quyền Thống đốc Nam Kỳ người Pháp, Sài Gòn là thủ đô của toàn Đông Dương.

Là đô thành nên dinh toàn quyền Norodom (Dinh Độc Lập) xây vô cùng lớn và lộng lẫy.

Đến năm 1902, khi Paul Doumer làm toàn quyền Đông Dương với âm mưu khai thác Vân Nam của Tàu nên ông này dời thủ đô ra Hà Nội, lúc này đang trong cơn mê ngủ.

Hà Nội trở thành thành đô của toàn Liên bang Đông Dương.

Pháp bắt đầu xẻ vài cái lộ kế Hồ Gươm như Paul Bert (Tràng Tiền)… xây nhà công sở ,nhà hát, dinh thự. Hà Nội dần có được bộ mặt mới.

Tuy nhiên vì xây gấp nên quy mô không lớn, không lâu dài hơn Sài Gòn, dinh toàn quyền Hà Nội vuông vức xám xịt, nặng nề.

Trong cuốn “Một tháng ở Nam Kỳ” ông Phạm Quỳnh khen Sài Gòn nức nở và không quên chê Hà Nội.

Ông viết:

”Người ta thường gọi Sài Gòn là cái “hạt báu của Á Đông” (la perle de l’Extrême- Orient)”

Ông khen dinh Norodom (Dinh Độc Lập) đẹp hơn Phủ toàn quyền HN: ”Mà phủ Toàn Quyền ở đây, qui mô cũng đẹp hơn ở Hà Nội.”

Ông khen cái Dinh Xã Tây Sài Gòn (Hôtel de ville):

”Chẳng bì với nhà Đốc lý Hà Nội ta, thật so sánh mà thẹn thay. Mà Hà Nội lại là nơi thủ đô của Đông Dương”

Ông khen chợ Bến Thành thanh thoát, bán buôn nhộn nhịp hơn chợ Đồng Xuân

“Còn Chợ Mới Sài Gòn… trong chợ thì rộng mênh mông, chợ Đồng Xuân Hà Nội chẳng thấm vào đâu”

Phạm Quỳnh kết luận:

“Nói tóm lại, cái hình thức của thành phố Sài Gòn sánh với thành phố Hà Nội còn hơn nhiều. Từ cách đặt đường phố cho đến cách dựng cửa nhà, từ cách thắp đèn điện cho đến cách đặt máy nước ở các nhà, cho đến cách tuần phòng vệ sinh trong phố xá, nhất nhất đều có tiến bộ hơn Hà Thành ta cả”

Đoạn đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho khánh thành 1881 là tuyến đường sắt đầu tiên của xứ An Nam và toàn cõi Đông Dương.

Cái đầu máy chạy bằng hơi nước khạc ra nào là khói ,lửa,mùi than nồng nặc,xì hơi nước nóng hổi ,dân Nam Kỳ kêu là “xe lửa”

Lúa gạo Lục Tỉnh nhiều vô số kể, những chành lúa gạo của Sài Gòn mé Bến Bình Đông, Mễ Cốc chất cao như núi.

Nguyễn Bính nhà thơ Nam Định những năm 40 đi về Phương Nam cởi mở, để mong tìm cho mình sự bình an.

“Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại
Hát rằng Phương Nam ta với ngươi”

Nguyễn Bính tả cảnh Tết Miền Nam,Tết Sài Gòn kiểu mỉa mai:

“Dưa hấu chất cao hơn nóc chợ
Và hoa sen nở đẹp huy hoàng”

Nhưng rốt cuộc Nguyễn Bính không thể hòa hợp với đất Sài Gòn,đất Miền Nam,cái “tôi” Bắc của ông quá lớn nên không học được “dân chủ”, không hợp rơ với luật chơi xứ này

Pháp cho xây ba công trình quyền lực ở trung tâm thành phố Sài Gòn là Khám Lớn ở chợ Cây Da Còm (Thư viện Khoa học Tổng hợp), Toà Đại

Hình Sài Gòn, và Dinh Thống Đốc Nam Kỳ (Dinh Norodom, Dinh Độc Lập).

Phải kể tới Dinh Gia Long, ban đầu là Viện Bảo tàng thương mại Nam Kỳ rồi thành dinh Phó thống đốc.

Khu tòa án xưa kêu là xóm Vườn Mít vì nơi đây có một vườn mít lớn.

Tại khúc sau lưng tòa án và khám lớn xưa có một cái chợ kêu là “Chợ cây da còm” vì nơi đây có một cây đa lớn cong queo.

Khu Dinh Độc Lập kéo dài qua trường trường Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn) qua Đường Mọi (Rue des Mois, Nguyễn Đình Chiểu nay) xưa là dinh của vợ Tả Quân Lê Văn Duyệt kêu là Dinh Bà Lớn, vườn cây của Tả Quân, nhà hát bội và trường ná (trường bắn).

Con đường dẫn từ sân bay Tân Sơn Nhứt về tới rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) là một con đường rất quan trọng vì nó đi ngang các công trình quyền lực trên. Ban đầu Pháp kêu là đường số 26, rồi đường Impératrice,đến năm 1870 đổi là Mac-Mahon

Ngày 28-12-1945, đoạn từ dinh Gia Long đến cầu Công Lý gọi là là Général De Gaulle.

Năm 1952 đoạn từ đường Gia Long ra Bến Chương Dương đặt là đường Maréchal De Lattre de Tassigny.

Từ ngày 22-3-1955 Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nhập hai đường làm một và đặt tên đường Công Lý.

Đoạn từ cầu Công Lý đến sân bay Tân Sơn Nhứt gọi là Công Lý nối dài, đến ngày 16-5-1955 cắt đoạn từ cầu Công Lý đến cổng sân bay đặt tên là đường Ngô Đình Khôi.

Sau đảo chánh 1-11-1963 đặt đoạn sân bay là đường Cách Mạng 1-11

Mang tên Công Lý vì đi ngang qua Pháp Đình Sài Gòn, cũng ngang qua Dinh Tổng Thống.

Trước mặt Dinh Tổng Thống đại lộ Norodom được đặt là Thống Nhất, nói lên ý nguyện của chánh thể trong tình cảnh Việt Nam bị cắt làm hai đau đớn.

Đường Công Lý hòa quyện cùng Gia Long, Thống Nhất , Tự Do nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập đẹp và ý nghĩa biết chừng nào
Đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có 26 tỉnh và đô thành vẫn là Sài Gòn.

Sài Gòn thời đó còn có công trường Dân Chủ ,công trường Cộng Hòa nằm ở những vị trí trung tâm

Đường Nancy được đặt tên là Cộng Hòa (Nguyễn Văn Cừ). Đường này đi ngang hông thành Ô Ma (Camp des Mares) là Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia .Cáo bùng binh ngã sáu ngoài vườn chú Hỏa cũng có tên là ngã sáu Cộng Hòa.

Công Trường Ngã Sáu Dân Chủ là tên cái bùng binh của các con đường Lê Văn Duyệt (CMT8), Hiền Vương (Võ Thị Sáu), Trần Quốc Toản (3 T 2), Yên Đỗ (Lý Chính Thắng)

Sài Gòn đẹp tuyệt vời, đẹp từ những cái tên đường

Một nhạc sĩ đã viết rằng :

“Cùng nhau đi tới Saigon
Cùng nhau đi tới Saigon
Thủ đô yêu dấu nước Nam tự do
Dừng chân trên bến Cộng Hòa
Người Trung Nam Bắc một nhà
Về đây chung sống hát khúc hoan ca”

Sài Gòn thân yêu của tất cả người Lục Tỉnh

“Con đường nào ta đi
Với bàn chân nhỏ bé
Con đường chiều thủ đô
Con đường bụi mờ”

Chúng ta luôn nhớ về thành đô Sài Gòn, thành đô yêu thương

“Tình yêu đón chờ, đêm tối về dìu nhau trên đường phố
Dịu hương tóc thề, vai sát kề đời như giấc mơ
Lá lá lá lá la la, lá lá lá lá la
Để lòng nhớ ơ…..thành đô..”

Sài Gòn rộn ràng

Ai cũng có những kỷ niệm gắn bó với xứ này, ít nhiều sẽ có, nó là cái nơi cái giống gì cũng có và ta sẽ cần nó vài lần trong đời

Bạn đi học, bạn đi làm cũng ở đó, bạn hẹn hò, bạn buồn bạn vui cũng ở đó.

Sài Gòn là hòn ngọc trung tâm, mọi thứ của Sài Gòn đều của Lục Tỉnh đưa lên, người Sài Gòn ban đầu cũng là người Lục Tỉnh, cùng chung giọng nói, cách sống, ý thức hệ và ẩm thực, văn hiến.

Ra vô Sài Gòn và về Lục Tỉnh à? Đã có xe đò lục tỉnh, có đường lục tỉnh, có cầu tàu lục tỉnh và đường xe lửa duy nhứt của lục tỉnh Sài Gòn – Mỹ Tho

Đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho đã đưa chưn bao nhiêu những chàng trai, cô gái quê từ lục tỉnh ra vô Sài Gòn, đưa các ông đốc phủ, ông chủ quận, thầy thông, thầy ký, điền chủ, thầy cai tổng, ông hội đồng thinh thang đi mua sắm, về soái phủ Nam Kỳ làm việc với quan Tây.

Dân ở xa về Sài Gòn dòm một cái rồi cũng ngoay ngoắt bước ra

“Lúa mùa rồi trả nợ nần sạch ráo
Để anh đi kiếm chén cháo đổi lấy chén cơm
Trước là cho biết cái xứ Sài Gòn
Sau nữa mua cái quần lãnh với gói bòn bon tặng con bạn tình”

Đất Sài Gòn là đất dân chủ, tự do, biết vị nhân tâm, hễ ai theo luật chơi thì cứ ở lại.

Xin ghi nhớ Tướng Trần Đại Định, Hậu Quân Võ Tánh, Tả Quân Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy, Cha Cả Bá Đa Lộc, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Tôn Thọ Tường, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hui Bon Hoa, Quách Đàm… đã ghi dấu ấn ở đất này.

Người Sài Gòn hào hoa, phóng khoáng, hề hà từ giọng nói

“Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo
Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi”

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn mực của Miền Nam, của Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng ta

Thiệt ra giọng Sài Gòn cũng là giọng Nam Kỳ thôi, nhưng do nó là giọng thành đô nên nó thành một trường phái đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn

“Hò ơ…
Em thương anh hết sức thương, nhớ hết sức nhớ
Gặp anh vô cớ em chẳng dám nhìn
Sợ chị lớn ở nhà chỉ sanh tâm biến tánh, hốt hỏa lôi đình
Chỉ rình ngã ba, chỉ đón ngã bảy, không biết chết mình hay hại em”

Tính cách Sài Gòn yêu ghét rặc ròi kiểu Lục Tỉnh, rặc ròi Miền Nam, y boong từ trong tâm trí của con cháu xứ này khi nhớ về hình ảnh bà nội, bà ngoại, bà cố, cô dì của mình

Nói về những cái đặc trưng đã thành “hồn vía” của đất Sài Gòn thì nhiều lắm, kể ra hoài không bao giờ hết
Đó là thương xá Eden xưa nó đẹp và hằn sâu vô lòng người Sài Gòn và nay nhìn cái tòa nhà mới mọc lên ngay chổ đó thấy có gì hơi thô thô, quê quê. Ra Lê Công Kiều coi đồ giả cổ cũng thấy vô duyên vậy đó.

Cái tên thương xá đã biến mất khỏi Sài Gòn.

Xưa Sài Gòn có nhiều thương xá, ở khu trung tâm Sài Gòn có thương xá Tax, thương xá Eden, thương xá Crystal Palace. Xuống Chợ Lớn có thương xá Đại Quang Minh, Thương xá Đồng Khánh.

Thương xá Eden bị đập bỏ, người ta dựng nên tòa nhà Union Square hoành tráng nhưng quê quê vô hồn mà người Sài Gòn không dám bước vô

Khu đó giờ thay đổi nhiều, lắm khi bước ra tưởng lạc vô cái chổ nào đó xa lạ, không biết có hiện đại không, nhưng rõ là lạc bước, mất hết hồn vía của Sài Gòn rồi

Đâu rồi cà phê Givral, cà phê La Pagode, nhà sách Xuân Thu, rạp hát Eden, rạp Rex?

“Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Giờ này thành phố chợt bùng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
Ôi Sài Gòn Sài Gòn giờ giới nghiêm
ôi Sài Gòn Sài Gòn mười một giờ vắng yên
Ôi em tôi Sài Gòn không buổi tối”

Nói vui mà buồn, giờ người Sài Gòn muốn đi thương xá thì… mua vé máy bay qua Mỹ, đi thương xá Phước Lộc Thọ, cũng như muốn coi cải lương không uốn éo, không sửa lời thì cũng qua bên Mỹ mà coi.

Mà không chỉ vụ  viên “Hải Dương” đánh trống thổi kèn hơi vô duyên, hình như “Vin” không có duyên với đất Sài Gòn, họ không có sự chân thành

Sài Gòn xưa có công viên Chi Lăng với nhiều cây cổ thụ rất bự. Sau này chả biết sao mà Vincom đốn trụi lủi hết cây đó, biến công viên Chi Lăng thành cái vườn hoa của riêng mình và thành một mặt tiền của Vincom thông qua đường Đồng Khởi, bên dưới nghe nói lại có hầm của tòa cao ốc

Mỗi lần chạy ngang Vincom dân SG cố cựu phải thở dài nhìn cái công viên nay đã quá vô duyên.

Mỗi lần chạy qua khu Tân Cảng cũng lắc đầu, một vệt răng lòi xỉ lô nhô, một cái công viên de thẳng ra sông Sài Gòn

Văn hóa Sài Gòn của chúng ta còn bắt đầu từ ẩm thực, ăn uống nữa

Danh xưng “Cafe Sài Gòn”ngẫm không sai, là vì Sài Gòn là nơi uống cafe đầu tiên ở đất Việt, nơi có quán cafe đầu tiên và những người khách Việt đầu tiên

Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm Gia Định, Định Tường và Biên Hòa thì năm 1864 có hai quán cà phê là Lyonnais và Café de Paris do người Pháp làm chủ đã xuất hiện ở Sài Gòn.

Những cái tên quán cafe như Café de la Musique, Grand Café de la Terrasse, Café des Fleurs,La Pagode, Givral, Brodard…đậm hơi hám của người Pháp

Sài Gòn với những tiệm bánh ngọt lâu đời, những cửa hàng bán đờn, những nhà sách lâu năm, những phòng trà và rạp hát như thánh đường

Sài Gòn của những con đường thinh thang, uốn khúc. Và nó cũng bị một trận cuồng phong xóa tên

Ít ai biết rằng sau 1975, đường bác sĩ Yersin là một trong ít con đường mang tên Tây còn sống sót ở Sài Gòn

Sau 1975 thậm chí các đường Pasteur, Alexandre de Rhodes cũng bị xóa sổ, người ta vì “lộn” nên coi cha Đắc Lộ Alexandre de Rhodes chính là linh mục Bá Đa Lộc. Thập niên 90 người ta mới chịu khôi phục lại đường Pasteur, Alexandre de Rhodes.

Bác sĩ Yersin là người có duyên nợ với Việt Nam, ông sống làm việc, chống dịch bịnh, tìm vaccxine, dạy dân y tế, vệ sinh, yêu dân VN và qua đời ở Nha Trang-Diên Khánh, Việt Nam.

Trước khi nhắm mắt ông dặn dò Bùi Quang Phương, người Việt gần gũi với mình: “Phương ơi, đừng cho người ta mang tôi đi chôn nơi khác, tôi muốn được ở lại Suối Dầu, Nha Trang…”. Ông Tôn Thất Chỉ đưa thuốc cho bác sĩ Yersin nhưng ông chỉ thều thào: “Người ta chết không cần uống nữa”. Một linh mục định rửa tội cho ông, nhưng ông cũng lắc đầu: “Người ta không có tội gì, không cần rửa tội”.

Dân Nha Trang yêu ông đến độ thờ tự ông trong một ngôi chùa, Linh Sơn tự.

Người Sài Gòn rất tiến bộ văn minh, kể cả trong cách cư xử của họ. Họ luôn nghĩ ai cũng tốt cũng như họ nên có đôi lúc lại buồn tênh vì bị lợi dụng

Sài Gòn từng là thủ đô của một quốc gia, là nơi định đô,đặt cơ quan đầu não, là trung tâm của chánh trị nước đó.

Năm 1968 một cú Mậu Thân khiến Sài Gòn biến dạng.

“Khóc quê hương suốt hai mươi năm ngoài lửa khói
Người nghìn sau nhắc chuyện đường thành”

Đất Phương Nam, người Miền Nam, người Sài Gòn luôn biết nghĩ tới người khác, ý thức tự do và nhân bản đã ăn sâu vào trong tâm tưởng của từng người, sự hy vọng, niềm tin về một cuộc sống vui vẻ, tiến bộ luôn ngời sáng lên trong từng khoảnh khắc.

Rồi 1975 Miền Nam, Sài Gòn bị một cái “nấc cục” khó tả, tưởng là trôi tụt vào một cơn mê dài đằng đẳng, bao nhiêu triệu người Miền Nam xáo trộn cuộc sống, bị mất nhà, mất đất, mất chồng, mất con, bị đi học “cải tạo” ở đất xa xôi, bị đi kinh tế mới, bị đánh tư sản.

Người Miền Nam, người Sài Gòn lần đầu tiên trong lịch sử lập xứ đã biết cái đói, ăn độn khoai mì, bo bo, rau rừng, thân chuối xắt.

Và một dòng người Nam như thác đổ bỏ nước ra đi, họ đi bằng tàu cá đóng bằng cây, tàu biển, ta gọi đó là vượt biển ra đi, dòng thuyền nhân người Việt nổi tiếng trên thế giới.

Dòng người vượt biên, bỏ nước ra đi, từ những chiếc tàu đánh cá, nhiều người đã bỏ mạng trên biển, trại tị nạn và định cư xứ lạ quê người.

“Trùng dương bát ngát người ơi!
Sóng dâng cao vời vợi
Thuyền trôi biết về đâu ?
Vầng trăng soi biển sâu
Giúp cho tôi nhiệm màu
làm sao bớt nỗi sầu”

Miền Nam bước vô một cơn mê đời

Một sự xáo trộn lớn kinh khủng,biến cố đời người khủng khiếp mà không bút mực nào thống kê hết cái khổ của người Miền Nam
Và cũng không có một lời xin lỗi nào bù nổi.

“Con sông nào biết đường ra biển đều biết đường đến bến Tự Do”

Ông bà ta có câu”Một kiểng hai quê” ,người lưu vong cũng vậy, họ giữ quê cũ trong lòng trong khi ở quê mới, cái cảm giác những lúc nhớ thì ký ức lùa về làm người ta bức rức khó chịu

Nhưng dù lưu vong, lòng người vẫn ngoảnh về xứ cũ. Hồn tha hương, hồn lưu vong vẫn ngóng về chốn xưa

Sài Gòn ơi thương nhớ!

Chúng ta vẫn gữ được hai chữ Sài Gòn trên đầu môi chót lưỡi, vẫn kêu nhau “Chời đất ơi” giữa phố phường. Vẫn ăn tô hủ tíu, vẫn chở nhau đi ăn khuya giữa Sài Gòn, Tết về vẫn cố giữ mứt me, mứt bí, thèo lèo cứt chuột, bánh tét, bánh ít, bấy nhiêu đó vẫn là ngon nhứt.

Kinh Dịch viết:

“Vun bồi Tánh Mệnh của mình
Giữ gìn toàn vẹn tánh lành Trời cho”

Miền Nam, Sài Gòn của chúng ta sáng ngời tiết nghĩa

Người Sài Gòn, người Miền Nam luôn là hình ảnh của Lục Vân Tiên lẫm liệt oai hùng trượng nghĩa. Nhưng sau hai ba lần bị lợi dụng, lừa gạt, thậm chí âm mưu giết chết thì chàng cũng có ý thức ra vấn đề, kẻ gian ác bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền đáp

Lục Vân Tiên tự bản thân là giỏi thiệt,biết “cua” Kiều Nguyệt Nga sắc nước hương trời thì không phải thằng ngu

Hoa tươi, hoa đẹp có ngày hoa héo, hoa tàn, hoa rụng. Nhưng hãy giữ lòng với quê hương mình dù mình có vô danh

Có nhiều người đã chết, hoàn toàn vô danh, anh hùng vô danh, không ai hay biết, không cần ai tung hê nhưng họ lặng thầm ngã xuống cho quê mình, tới phút cuối họ cũng đem cái thân xác của mình tưới tẩm cho quê nhà xanh cây tốt cỏ

Quê nhà vẫn thiêng thiêng

Tính cách Sài Gòn vẫn là mãi mãi, sự hồn nhiên không móc mé, sự chân thật không so đo, nhưng đừng nghĩ người Sài Gòn, người Miền Nam là con nít không chịu lớn.

Dân chủ có yếu tố tôn trọng, tôn trọng người để người tôn trọng mình, khi sanh ra đời Trời cho danh dự đều nhau.

Có những nỗi buồn thân phận ,đời người lâm vào những bước ngoặt của lịch sử, đó là nghịch cảnh quê hương mà không có cuốn sách nào, bút mực nào tả xiết.

Nhưng những người còn sống trên quê nhà đó vẫn ráng giữ phẩm giá của mình, cái riêng của mình

Người miền Nam, người Sài Gòn vẫn giữ giá trị của mình với lòng kiêu hãnh tột cùng.

Ba trăm năm trước kiêu hãnh sao giờ vẫn kiêu hãnh y chang như vậy.

Related Posts

Facebook Comments